Luận văn Cao học: Trách nhiệm xã hội của Doanh Nghiệp Việt Nam

Luận văn Cao học: Trách nhiệm xã hội của Doanh Nghiệp Việt Nam

Trong một thế giới công nghệ thông tin ngày càng phát triển, xu hướng toàn cầu hóa, quốc tế hóa trở thành một tất yếu khách quan, mối quan hệ giữa các nền kinh tế ngày càng mật thiết và gắn bó, hoạt động giao lưu thương mại giữa các quốc gia ngày càng phát triển mạnh mẽ thì sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cũng ngày càng gay gắt. Trước đây, các công ty dùng biện pháp đa dạng hóa mẫu mã sản phẩm, nâng cao chất lượng hàng hóa làm biện pháp cạnh tranh hữu hiệu để giành lợi thế trên thương trường. Hiện nay, các công ty chú ý tới việc củng cố hình ảnh, nâng cao uy tín, phát triển thương hiệu thông qua việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp, đạo đức kinh doanh là một giải pháp đang được áp dụng và bước đầu đem lại hiệu quả tích cực. Các doanh nghiệp muốn khẳng định được thương hiệu trên thị trường thì điều mà họ hướng tới bây giờ là việc thực hiện tốt Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp (CSR – Corporate Social Responsibility).

Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp đang là xu thế lớn mạnh trên thế giới, trở thành một yêu cầu “mềm” đối với các doanh nghiệp trong quá trình hội nhập, nhưng ở Việt Nam vấn đề này vẫn còn khá mới mẻ và chưa được các doanh nghiệp quan tâm đúng mức. Hàng loạt các vụ việc vi phạm môi trường, vi phạm quyền lợi người lao động, xâm phạm lợi ích người tiêu dùng… nghiêm trọng đã và đang khiến cộng đồng bức xúc và mất dần lòng tin vào các doanh nghiệp. Từ đó, các doanh nghiệp Việt Nam nhận thức sâu sắc hơn về lợi ích thực hiện Trách nhiệm xã hội mang lại cho các doanh nghiệp là cần thiết trong bối cảnh đất nước ta hiện nay. Doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm xã hội là góp phần nâng cao lợi nhuận cho doanh nghiệp như nhận được nhiều đơn đặt hàng hơn, và cũng là biện pháp quảng cáo cho tên tuổi của doanh nghiệp đó.

Vì vậy, ý thức được vấn đề này các doanh nghiệp đã chú trọng tới việc đưa CSR vào hoạt động kinh doanh của mình.

  1. Tình hình nghiên cứu.

2.1. Tình hình nghiên cứu CSR trên thế giới.

Trên thế giới có thể điểm qua một số công trình tiêu biểu như:

– Matthew J. Hirschland, “Corporate Social Responsibility and the Shaping of Global Public Policy”,  Hardcover (Dec. 12, 2006). Tác giả bàn về tầm quan trọng của CSR trong công ty như: Các quy định kinh doanh toàn cầu mới – sự hiểu biết của công ty về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp và CSR thực hành đáp ứng lý thuyết – quản trị toàn cầu và mạng lưới chính sách công cộng toàn cầu.

– Oyvind Ihlen, Betteke Van Ruler, Magnus Fredriksson, “Public Relations and Social Theory: Key Figures and Concepts” (Routledge Communication Series). Tác giả bàn về vấn đề: Quan hệ công chúng và lý thuyết xã hội nới rộng phạm vi lý thuyết của quan hệ công chúng. Từ đó  tập trung vào khái niệm như niềm tin, tính hợp pháp, sự hiểu biết, và phản xạ, cũng như về các vấn đề về hành vi, năng lượng, và ngôn ngữ.

– Muhammad Yunus, “Building Social Business: The New Kind of Capitalism That Serves Humanity’s Most Pressing Needs”. Tác giả muốn giúp các doanh nghiệp thấy được vai trò của hoạt động kinh doanh. Qua những gương điển hình mà các doanh nghiệp quan tâm nhiều hơn tới vấn đề trahcs nhiệm xã hội của doanh nghiệp.

2.2. Tình hình nghiên cứu CSR ở Việt Nam.

Tại Việt Nam, có thể kể đến một số sách, bài báo tiêu biểu nghiên cứu về CSR như:

– TS Lê Thanh Hà, 2006, “Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp trong vấn đề tiền lương”, Báo Lao động xã hội, số 290, ngày 15/05/2006. Tác giả muốn đề cập tới vai trò của tiền lương như: các mức lương vừa thể hiện vị trí, công việc vừa thể hiện sự chia sẻ lợi ích giữa các tổ chức, các doanh nghiệp và người lao động vừa thể hiện sự phát triển nghề nghiệp của mỗi cá nhân người lao động.

– Hoàng Long, 2007, “Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp – Động lực cho sự phát triển”, Báo Thương Mại, số 26/2007. Tác giả chứng minh tầm quan trọng của CSR trong doanh nghiệp tới sự phát triển xã hội: chú ý phát triển cơ sở hạ tầng cứng và mềm, giao thông vận tải, nhất là các hành lang kinh tế, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, các ngành dịch vụ then chốt như tài chính – ngân hàng, viễn thông, các nguồn năng lượng mới và tái tạo được.

– Hồng Minh, 2007, “Trách nhiệm xã hội và đạo đức doanh nghiệp”, Báo Văn hoá và đời sống xã hội, số 2/2007. Đạo đức và trách nhiệm xã hội rõ ràng là những vấn đề không thể thiếu trong kinh doanh. Thật khó mà thuyết phục doanh nghiệp thực hiện tốt các vấn đề đạo đức và trách nhiệm bằng những luận cứ dựa trên lợi ích kinh tế trước mắt.

– TS. Nguyễn Mạnh Quân, 2004, Giáo trình “Đạo đức kinh doanh và văn hoá doanh nghiệp”, NXB Lao động Xã hôi. Đạo đức kinh doanh và văn hóa doanh nghiệp là tài sản quý giá góp phần quan trọng quyết định sự thành bại của mỗi doanh nghiệp. Đó là một hệ thống các giá trị, chuẩn mực, phương pháp tư duy ảnh hưởng rất lớn tới hành động của các thành viên trong doanh nghiệp.

Tuy nhiên, cho đến nay chưa có ai nghiên cứu đề tài: “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp tại Việt Nam: Thực trạng và Giải pháp”. Đây là đề tài đầu tiên Thạc sĩ bàn về vấn đề này.

  1. Mục đích nghiên cứu.

Mục đích nghiên cứu của đề tài là:

–        Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp, nội dung và cách thức triển khai Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp.

–        Nghiên cứu thực trạng của Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp trên thế giới và tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

–        Đề xuất giải pháp để thực hiện Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp ở Việt nam để phát triển kinh tế – xã hội ở Việt Nam trong thời gian tới.

  1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.

–        Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề mang tính lý luận về Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp như khái niệm và các yếu tố cấu thành Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp, vai trò của Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp đối với sự trường tồn và phát triển của doanh nghiệp.

–        Phạm vi nghiên cứu của đề tài giới hạn ở việc xem xét quá trình thực hiện Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp; những phương pháp, cách thức của các công ty đa quốc gia xây dựng các tiêu chuẩn, Bộ Quy tắc ứng xử và phát triển Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp.

  1. Phương pháp nghiên cứu.

Luận văn áp dụng những phương pháp nghiên cứu sau:

– Phương pháp nghiên cứu tại bàn: Các thông tin thứ cấp được thu thập và sử dụng chủ yếu từ các nguồn: các sách báo, tạp chí chuyên ngành liên quan, tài liệu từ các cổng thông tin internet,…

– Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm: Luận văn khảo sát thực tế tại cuộc hội thảo nhằm thu thập ý kiến của các chuyên gia về lĩnh vực này: “Hội nghị bàn tròn các bên liên quan BSCI 2010 tại Hà Nội”, ngày 06 tháng 09 năm 2010; Các ý kiến của những người trực tiếp tham gia thực hiện CSR như: Bà Đặng Phương Dung – Phó chủ tịch Hiệp hội Dệt May Việt Nam, TS. Nguyễn Thị Lan Hương – Viện trưởng, Viện KHLĐ và XH, Bộ Lao động, Thương Binh và Xã hội Việt Nam.

  1. Kết cấu của đề tài.

Đề tài luận văn: “Thực hiện Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp tại Việt Nam: Thực trạng và giải pháp”. Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, Khóa luận chia làm 3 chương:

Chương I: Những vấn đề lý luận cơ bản về Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp.

Chương II: Thực hiện Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp trên thế giới và tại Việt Nam.

Chương III: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp tại Việt Nam.

TÓM TẮT LUẬN VĂN

 PHẦN MỞ ĐẦU

  1. Tính cấp thiết của đề tài.

Trong một thế giới công nghệ thông tin ngày càng phát triển, xu hướng toàn cầu hóa, quốc tế hóa trở thành một tất yếu khách quan, mối quan hệ giữa các nền kinh tế ngày càng mật thiết và gắn bó, hoạt động giao lưu thương mại giữa các quốc gia ngày càng phát triển mạnh mẽ thì sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cũng ngày càng gay gắt. Trước đây, các công ty dùng biện pháp đa dạng hóa mẫu mã sản phẩm, nâng cao chất lượng hàng hóa làm biện pháp cạnh tranh hữu hiệu để giành lợi thế trên thương trường. Hiện nay, các công ty chú ý tới việc củng cố hình ảnh, nâng cao uy tín, phát triển thương hiệu thông qua việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp, đạo đức kinh doanh là một giải pháp đang được áp dụng và bước đầu đem lại hiệu quả tích cực. Các doanh nghiệp muốn khẳng định được thương hiệu trên thị trường thì điều mà họ hướng tới bây giờ là việc thực hiện tốt Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp (CSR – Corporate Social Responsibility).

Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp đang là xu thế lớn mạnh trên thế giới, trở thành một yêu cầu “mềm” đối với các doanh nghiệp trong quá trình hội nhập, nhưng ở Việt Nam vấn đề này vẫn còn khá mới mẻ và chưa được các doanh nghiệp quan tâm đúng mức. Hàng loạt các vụ việc vi phạm môi trường, vi phạm quyền lợi người lao động, xâm phạm lợi ích người tiêu dùng… nghiêm trọng đã và đang khiến cộng đồng bức xúc và mất dần lòng tin vào các doanh nghiệp. Từ đó, các doanh nghiệp Việt Nam nhận thức sâu sắc hơn về lợi ích thực hiện Trách nhiệm xã hội mang lại cho các doanh nghiệp là cần thiết trong bối cảnh đất nước ta hiện nay. Doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm xã hội là góp phần nâng cao lợi nhuận cho doanh nghiệp như nhận được nhiều đơn đặt hàng hơn, và cũng là biện pháp quảng cáo cho tên tuổi của doanh nghiệp đó.

Vì vậy, ý thức được vấn đề này các doanh nghiệp đã chú trọng tới việc đưa CSR vào hoạt động kinh doanh của mình.

  1. Tình hình nghiên cứu.

2.1. Tình hình nghiên cứu CSR trên thế giới.

Trên thế giới có thể điểm qua một số công trình tiêu biểu như:

– Matthew J. Hirschland, “Corporate Social Responsibility and the Shaping of Global Public Policy”,  Hardcover (Dec. 12, 2006). Tác giả bàn về tầm quan trọng của CSR trong công ty như: Các quy định kinh doanh toàn cầu mới – sự hiểu biết của công ty về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp và CSR thực hành đáp ứng lý thuyết – quản trị toàn cầu và mạng lưới chính sách công cộng toàn cầu.

– Oyvind Ihlen, Betteke Van Ruler, Magnus Fredriksson, “Public Relations and Social Theory: Key Figures and Concepts” (Routledge Communication Series). Tác giả bàn về vấn đề: Quan hệ công chúng và lý thuyết xã hội nới rộng phạm vi lý thuyết của quan hệ công chúng. Từ đó  tập trung vào khái niệm như niềm tin, tính hợp pháp, sự hiểu biết, và phản xạ, cũng như về các vấn đề về hành vi, năng lượng, và ngôn ngữ.

– Muhammad Yunus, “Building Social Business: The New Kind of Capitalism That Serves Humanity’s Most Pressing Needs”. Tác giả muốn giúp các doanh nghiệp thấy được vai trò của hoạt động kinh doanh. Qua những gương điển hình mà các doanh nghiệp quan tâm nhiều hơn tới vấn đề trahcs nhiệm xã hội của doanh nghiệp.

2.2. Tình hình nghiên cứu CSR ở Việt Nam.

Tại Việt Nam, có thể kể đến một số sách, bài báo tiêu biểu nghiên cứu về CSR như:

– TS Lê Thanh Hà, 2006, “Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp trong vấn đề tiền lương”, Báo Lao động xã hội, số 290, ngày 15/05/2006. Tác giả muốn đề cập tới vai trò của tiền lương như: các mức lương vừa thể hiện vị trí, công việc vừa thể hiện sự chia sẻ lợi ích giữa các tổ chức, các doanh nghiệp và người lao động vừa thể hiện sự phát triển nghề nghiệp của mỗi cá nhân người lao động.

– Hoàng Long, 2007, “Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp – Động lực cho sự phát triển”, Báo Thương Mại, số 26/2007. Tác giả chứng minh tầm quan trọng của CSR trong doanh nghiệp tới sự phát triển xã hội: chú ý phát triển cơ sở hạ tầng cứng và mềm, giao thông vận tải, nhất là các hành lang kinh tế, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, các ngành dịch vụ then chốt như tài chính – ngân hàng, viễn thông, các nguồn năng lượng mới và tái tạo được.

– Hồng Minh, 2007, “Trách nhiệm xã hội và đạo đức doanh nghiệp”, Báo Văn hoá và đời sống xã hội, số 2/2007. Đạo đức và trách nhiệm xã hội rõ ràng là những vấn đề không thể thiếu trong kinh doanh. Thật khó mà thuyết phục doanh nghiệp thực hiện tốt các vấn đề đạo đức và trách nhiệm bằng những luận cứ dựa trên lợi ích kinh tế trước mắt.

– TS. Nguyễn Mạnh Quân, 2004, Giáo trình “Đạo đức kinh doanh và văn hoá doanh nghiệp”, NXB Lao động Xã hôi. Đạo đức kinh doanh và văn hóa doanh nghiệp là tài sản quý giá góp phần quan trọng quyết định sự thành bại của mỗi doanh nghiệp. Đó là một hệ thống các giá trị, chuẩn mực, phương pháp tư duy ảnh hưởng rất lớn tới hành động của các thành viên trong doanh nghiệp.

Tuy nhiên, cho đến nay chưa có ai nghiên cứu đề tài: “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp tại Việt Nam: Thực trạng và Giải pháp”. Đây là đề tài đầu tiên Thạc sĩ bàn về vấn đề này.

  1. Mục đích nghiên cứu.

Mục đích nghiên cứu của đề tài là:

–        Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp, nội dung và cách thức triển khai Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp.

–        Nghiên cứu thực trạng của Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp trên thế giới và tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

–        Đề xuất giải pháp để thực hiện Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp ở Việt nam để phát triển kinh tế – xã hội ở Việt Nam trong thời gian tới.

  1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.

–        Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề mang tính lý luận về Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp như khái niệm và các yếu tố cấu thành Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp, vai trò của Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp đối với sự trường tồn và phát triển của doanh nghiệp.

–        Phạm vi nghiên cứu của đề tài giới hạn ở việc xem xét quá trình thực hiện Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp; những phương pháp, cách thức của các công ty đa quốc gia xây dựng các tiêu chuẩn, Bộ Quy tắc ứng xử và phát triển Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp.

  1. Phương pháp nghiên cứu.

Luận văn áp dụng những phương pháp nghiên cứu sau:

– Phương pháp nghiên cứu tại bàn: Các thông tin thứ cấp được thu thập và sử dụng chủ yếu từ các nguồn: các sách báo, tạp chí chuyên ngành liên quan, tài liệu từ các cổng thông tin internet,…

– Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm: Luận văn khảo sát thực tế tại cuộc hội thảo nhằm thu thập ý kiến của các chuyên gia về lĩnh vực này: “Hội nghị bàn tròn các bên liên quan BSCI 2010 tại Hà Nội”, ngày 06 tháng 09 năm 2010; Các ý kiến của những người trực tiếp tham gia thực hiện CSR như: Bà Đặng Phương Dung – Phó chủ tịch Hiệp hội Dệt May Việt Nam, TS. Nguyễn Thị Lan Hương – Viện trưởng, Viện KHLĐ và XH, Bộ Lao động, Thương Binh và Xã hội Việt Nam.

  1. Kết cấu của đề tài.

Đề tài luận văn: “Thực hiện Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp tại Việt Nam: Thực trạng và giải pháp”. Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, Khóa luận chia làm 3 chương:

Chương I: Những vấn đề lý luận cơ bản về Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp.

Chương II: Thực hiện Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp trên thế giới và tại Việt Nam.

Chương III: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp tại Việt Nam.

 CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM

XÃ HỘI DOANH NGHIỆP

1.1. Giới thiệu chung   

1.1.1. Vài nét về Đạo đức kinh doanh     

Đạo đức là một phạm trù đặc trưng của xã hội loài người. Đạo đức là một phạm trù rất rộng đề cập đến mối quan hệ con người và các quy tắc ứng xử trong mối quan hệ giữa con người với con người trong các hoạt động sống. Từ góc độ khoa học, theo Từ điển Điện tử American Heritage Dictionary “Đạo đức là một bộ môn khoa học nghiên cứu về bản chất tự nhiên của cái đúng – cái sai, triết lý về cái đúng – cái sai, quy tắc hay chuẩn mực chi phối hành vi của các thành viên của một nghề nghiệp”. Đạo đức kinh doanh chỉ bắt đầu được nghiên cứu nghiêm túc và phát triển thành một môn khoa học, cả về lý luận và thực hành, vào nửa sau thế kỉ XX ở các nước công nghiệp phát triển phương Tây, khi các nhà quản lý phải đối đầu với các vấn đề nảy sinh từ việc quản lý các công ty khổng lồ hoạt động trên phạm vi toàn cầu và khi họ chứng kiến sự lớn mạnh của các công ty thuộc nền kinh tế Á Đông truyền thống.

1.1.2. Khái niệm Trách nhiệm xã hội.

Một khía cạnh quan trọng của Đạo đức kinh doanh đối với doanh nghiệp, để đánh giá doanh nghiệp chính là Trách nhiệm xã hội đối với doanh nghiệp. Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp ra đời sau đạo đức kinh doanh và đang là mối quan tâm hàng đầu của các doanh nghiệp hiện nay. Vậy, Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp là gì?

Khái niệm CSR theo thời gian đã mở rộng đối tượng ảnh hưởng của mình ra nhiều doanh nghiệp và tổ chức liên quan, còn mục đích đặt ra cho các doanh nghiệp đó là phải quan tâm tới các hoạt động của mình có ảnh hưởng như thế nào tới các vấn đề xã hội xung quanh như với cộng đồng (quyền con người, các vấn đề về lao động,…), bảo vệ môi trường;… Sau rất nhiều định nghĩa về CSR thì định nghĩa của Nhóm Phát triển Kinh tế Tư nhân của Ngân hàng thế giới đưa ra có tầm bao quát nhất.

Nhóm Phát triển Kinh tế Tư nhân của Ngân hàng thế giới đưa ra định nghĩa về Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp: “Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp là sự cam kết của doanh nghiệp đóng góp vào việc phát triển kinh tế bền vững thông qua các hoạt động nhằm nâng cao chất lượng đời sống của người lao động và thành viên gia đình họ, cho cộng đồng và toàn xã hội theo cách có lợi nhất cho cả doanh nghiệp cũng như phát triển chung của xã hội”.

1.1.3. Nội dung của Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp.

1.1.3.1. Phạm vi ảnh hưởng của Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp.

Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp là một lĩnh vực rộng lớn liên quan đến mọi đối tượng, liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp. Bởi vậy, phạm vi ảnh hưởng của Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp không chỉ bó hẹp trong nội bộ doanh nghiệp mà nó còn có sức lan tỏa lớn tới nhiều thành phần khác nhau trong xã hội. Vì vậy, về cơ bản người ta chia phạm vi ảnh hưởng của CSR với 3 khía cạnh sau:

– Phạm vi nội bộ doanh nghiệp.

– Phạm vi hoạt động kinh doanh.

– Phạm vi xã hội.

1.1.3.2. Nội dung của CSR.

Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp là những nghĩa vụ một doanh nghiệp hay cá nhân phải thực hiện đối với xã hội nhằm đạt được nhiều nhất những tác động tích cực và giảm tối thiểu các tác động tiêu cực đối với xã hội. Về cơ bản trách nhiệm xã hội bao gồm những nghĩa vụ về kinh tế, pháp lý, đạo đức và nhân văn.

1.1.3.3. Đối tượng của CSR.

– Người lao động, cán bộ nhân viên: doanh nghiệp cần tuân thủ đầy đủ, nghiêm chỉnh các quy định về pháp luật về vấn đề sử dụng lao động, đảm bảo an toàn lao động, xây dựng mối quan hệ thân thiện, tốt đẹp trong nội bộ doanh nghiệp,…

– Các bên liên quan (stakeholders): Các bên liên quan bao gồm cổ đông, người tiêu dùng, gia đình của người lao động… Trách nhiệm với cổ động là những ràng buộc, cam kết liên quan đến quyền và phạm vi sử dụng tài sản ủy thác; đảm bảo sự trung thực, minh bạc trong thông tin, trong phần lợi tức mà cổ đông đáng được hưởng,… Trách nhiệm với người tiêu dùng người tiêu dùng được sử dụng hàng hóa, dịch vụ đúng với những gì nhà sản xuất đã cam kết….

– Cộng đồng: Trách nhiệm với cộng đồng là trách nhiệm góp phần nâng cao, cải thiện và phát triển cuộc sống cộng đồng mà gần nhất là địa phương nơi doanh nghiệp hoạt động, đóng góp cho sự phát triển bền vững môi trường văn hóa – kinh tế – xã hội của quốc gia.

1.1.4. Mối quan hệ giữa Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp và Đạo đức kinh doanh.

Trách nhiệm xã hội là một biểu hiện của đạo đức kinh doanh, là việc hiện thực hóa các quy tắc, chuẩn mực của đạo đức kinh doanh thành những hành động thực tế, nhằm phát huy được nhiều nhất những tác động tích cực và giảm thiểu tối đa các tác Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp có ý nghĩa quan trọng trong đánh giá Đạo đức kinh doanh (ĐĐKD).

Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp thực hiện các mục tiêu mà Đạo đức kinh doanh đặt ra. Sơ đồ mô tả quy trình khép kín, gắn kết mật thiết giữa Đạo đức kinh doanh và Trách nhiệm xã hội, ví như quá trình sản sinh và quá trình tiêu thụ trong sinh học vậy.

1.2. Các nhân tố ảnh hưởng tới Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp.

1.2.1. Quy định của pháp luật.

Quy định của pháp luật là cơ sở, là nền tảng của CSR. Đây là tiêu chí ràng buộc cho các doanh nghiệp phải hướng tới và phải thực hiện để đạt được hiệu quả kinh tế cao. Các nhà kinh doanh, các doanh nghiệp khi đã tuân thủ theo các quy định của pháp luật thì sẽ tạo được một môi trường pháp lý, trong đó các doanh nghiệp hoạt động theo một mục tiêu đúng đắn, tạo nên môi trường kinh doanh công bằng, bình đẳng, thông thoáng và tạo sự gần gũi giữa các doanh nghiệp với nhau. Tuy nhiên, pháp luật không thể là căn cứ phán xét một hành động là có đạo đức hay vô đạo đức trong những trường hợp cụ thể mà nó chỉ thiết lập những quy tắc cơ bản cho những hành động được coi là có trách nhiệm trong kinh doanh.

1.2.2. Nhận thức của Xã hội.

Khi xã hội phát triển cao đồng nghĩa với mức sống của cộng đồng được nâng cao, do đó nhu cầu của con người cũng phát triển theo. Theo Abraham Maslow thì con người càng cố gắng thỏa mãn những nhu cầu và khi nhu cầu nào đó được thỏa mãn lại xuất hiện những nhu cầu tiếp theo, ban đầu là nhu cầu sinh lý (ăn, mặc, ở,…); sau đó đến nhu cầu an toàn, được bảo vệ; nhu cầu xã hội (các vấn đề về tình cảm); nhu cầu được tôn trọng, được công nhận, có địa vị; cuối cùng là nhu cầu tự khẳng định, tự phát triển và tự thể hiện mình.

1.2.3. Quá trình toàn cầu hóa và sức mạnh của thị trường.

Sức mạnh của thị trường mà điển hình là thị hiếu người tiêu dùng lại đã và đang đặt ra cho các nhà kinh doanh sự cạnh tranh khốc liệt về trách nhiệm xã hội và đạo đức kinh doanh dựa trên nền tảng sự tác động tổng hợp hành vi ứng xử, tới quyết định lựa chọn của người tiêu dùng. Lúc đó, CSR và Đạo đức kinh doanh là nguồn lực, nguồn vốn mới cho doanh nghiệp trong cạnh tranh quốc tế. Chính hai nguồn lực này sẽ tác động và thúc đẩy người tiêu dùng thay đổi quan niệm tiêu dùng của họ.

1.3. Các công cụ thực hiện và đánh giá hiệu quả hoạt động của CSR.

1.3.1. Các công cụ thực hiện Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp.

Đạo đức thường được hiểu là những ràng buộc bất thành văn, CSR đã được cụ thể hóa thành các văn bản cho các doanh nghiệp tùy nghi áp dụng. Theo thống kê, hiện nay trên thế giới có hơn 1000 bộ quy tắc ứng xử thể hiện Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp liên quan đến các nội dung: an toàn vệ sinh lao động nơi sản xuất, chăm sóc sức khỏe người lao động và bảo vệ môi trường như một chứng chỉ phổ biến: SA 8000 – tiêu chuẩn lao động trong các nhà máy sản xuất; WRAP- trách nhiệm toàn cầu trong ngành sản xuất may mặc; FSC- bảo vệ rừng bền vững; ISO 14 001 – hệ thống quản lý môi trường trong doanh nghiệp;…

1.3.2. Công cụ đánh giá CSR.

Các doanh nghiệp thực hiện Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp bước đầu mang lại những lợi ích cho doanh nghiệp: Đẩy mạnh sự tuân thủ luật pháp quốc gia; Bảo đảm cho các doanh nghiệp thực hiện được các mục tiêu kinh doanh lâu dài, bền vững và tăng khả năng cạnh tranh trong quá trình hội nhập; Xây dựng mối quan hệ lao động hài hòa, giảm các rủi ro trong kinh doanh quốc tế như tranh chấp thương mại, bán phá giá,… Do đó, doanh nghiệp thực hiện CSR không đơn thuần mang lại lợi ích kinh tế mà còn có lợi ích xã hội và chính trị. Bên cạnh, mặt tích cực thì doanh nghiệp thực hiện CSR theo các Bộ Quy tắc cũng gặp phải không ít khó khăn.

1.4. Tác dụng của việc thực hiện Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp.

1.4.1. Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp góp phần điều chỉnh hành vi của chủ thể kinh doanh.

Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp cũng là cam kết đạo đức của giới kinh doanh về sự đóng góp cho sự phát triển kinh tế xã hội bằng cách nâng cao đời sống của lực lượng lao động và gia đình họ, đồng thời nó mang lại các phúc lợi cho cộng đồng và xã hội. Bên cạnh đó nếu người lao động có các điều kiện môi trường làm việc thuận lợi sẽ thúc đẩy họ làm việc tốt hơn tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp cận với thị trường thế giới, mở rộng thị trường cho sản phẩm của mình.

1.4.2. Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp góp phần nâng cao chất lượng, giá trị thương hiệu và uy tín của doanh nghiệp.

Công bố thông tin minh bạch, điều hành công ty hiệu quả, sử dụng vốn hợp lý để tạo ra giá trị gia tăng cho sản phẩm là điều cần phải làm đối với bất kỳ doanh nghiệp nào vì sự phát triển bền vững của chính doanh nghiệp. Có như thế, mới tạo ra được niềm tin cho nhà đầu tư, mà niềm tin chính là cảm xúc – yếu tố quyết định góp phần tạo ra lợi nhuận cổ phiếu.

Đối với khách hàng, CSR thể hiện ở việc bán sản phẩm thỏa mãn tốt nhu cầu, giá cả phải chăng, giao hàng đúng hẹn, và an toàn cho sử dụng. Thực tế cho thấy, nếu sản phẩm đáp ứng tốt nhu cầu của người tiêu dùng, hình ảnh về sản phẩm và doanh nghiệp lưu giữ trong tâm trí người tiêu dùng. Đối với cộng đồng nói chung, nhiệm vụ trước hết là bảo vệ môi trường (cũng chính là bảo vệ sức khỏe của công chúng) và sau đó là làm từ thiện.

 

 

1.4.3. Việc thực hiện Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp góp phần tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.

Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp không chỉ dừng lại ở những vấn đề vừa nêu, nhưng nhìn chung đây là các vấn đề trọng tâm. Thực hiện tốt trách nhiệm xã hội doanh nghiệp đem lại rất nhiều lợi ích. CSR có mối liên hệ tích cực đến lãi đầu tư, tài sản và mức tăng doanh thu. CSR sẽ tạo ra cơ sở thành công cho tất cả các hoạt động kinh doanh quan trọng của tổ chức.

1.4.4. Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp góp phần thu hút nguồn lao động giỏi.

Lao động có năng lực là yếu tố quyết định năng suất và chất lượng sản phẩm. ở các nước đang phát triển, số lượng lao động lớn nhưng đội ngũ lao động đạt chất lượng cao lại không nhiều; do vậy việc thu hút và giữ được nhân viên có chuyên môn tốt và có sự cam kết cao là một thách thức đối với các doanh nghiệp. Những doanh nghiệp trả lương thỏa đáng và công bằng, tạo cho nhân viên cơ hội đào tạo, bảo hiểm y tế và môi trường làm việc sạch sẽ có khả năng thu hút và giữ được nhân viên tốt.

1.4.5. Trách nhiệm xã hội góp phần nâng cao hình ảnh quốc gia.

Trách nhiệm xã hội là xu thế tất yếu và mang tính toàn cầu, thực hiện trách nhiệm xã hội là tăng khả năng cạnh tranh và hội nhập quốc tế, không mâu thuẫn với lợi ích kinh tế của doanh nghiệp. Vai trò của Chính phủ trong việc thúc đẩy trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là phải tạo ra môi trường pháp luật hoàn chỉnh, một sân chơi bình đẳng cho các doanh nghiệp; cung cấp thông tin, tư vấn, hướng dẫn và ban hành các cơ chế, chính sách khuyến khích đối với doanh nghiệp.

CHƯƠNG II: THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI DOANH NGHIỆP TRÊN THẾ GIỚI VÀ TẠI VIỆT NAM

2.1. Vài nét về tình hình thực hiện CSR trên thế giới.

2.1.1. Những tổ chức quốc tế về CSR.

CSR không chỉ phổ biến ở phạm vi các doanh nghiệp, ở cấp độ quản lý Nhà nước, vấn đề CSR cũng nhận được sự quan tâm, và là một trong những mục tiêu, chiến lược để xây dựng một nền kinh tế vững mạnh. Nhà nước có vai trò quan trọng trong điều chỉnh hoạt động của doanh nghiệp để đảm bảo an toàn cho môi trường cũng như cho xã hội, trước cơn sóng vươn tới lợi nhuận cực đại của các doanh nghiệp. Chính vì thế, nhiều nước đã thể chế hóa nội dung của CSR vào các văn bản pháp luật hay các quy định khác dưới những hình thức thể hiện khác nhau. Trên bình diện rộng hơn, nỗ lực đưa CSR thành thông lệ quốc tế phổ biến và đã trở thành hiện thực. Năm 1999, một thỏa thuận toàn cầu được Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc (LHQ) Kofi Annan đưa ra tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới.

Đối với các thiết chế khu vực, CSR cũng được Ủy ban Châu Âu công nhận từ rất sớm: “CSR là việc các doanh nghiệp đưa mối quan tâm về xã hội và môi trường vào các hoạt động kinh doanh và mối quan hệ của họ với cộng đồng của mình trên cơ sở tự nguyện”.

Ngoài ra, CSR cũng đã được đưa vào Chương trình nghị sự chính thức của Hội nghị thượng đỉnh APEC (Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương) tổ chức vào tháng 11/2008 tại Lima, Peru.

2.1.2. Tình hình thực hiện CSR tại một số doanh nghiệp.

Trên thế giới có rất nhiều doanh nghiệp thành công nhờ thực hiện CSR, có những doanh nghiệp từ một công ty nhỏ đã trở thành công ty phát triển vượt bậc nhờ CSR. Tuy nhiên, những doanh nghiệp thực hiện CSR không phải là công ty nào cũng thành công, mà cũng có những công ty thất bại. Dưới đây là một số doanh nghiệp điển hình cho việc thực hiện CSR.

2.1.2.1. Procter&Gamble

P&G được thành lập năm 1837 tại Mỹ với việc sáp nhập công ty sản xuất nến Procter và cơ sở sản xuất xà phòng Gamble. Khởi đầu là một công ty nhỏ với mặt hàng sản xuất chính là xà phòng, P&G đã trở thành một trong những công ty sản xuất hàng tiêu dùng nổi tiếng nhất thế giới.

2.1.2.2. Tập đoàn CSC

Tập đoàn CSC thành lập năm 1957 tại Mỹ là công ty chuyên cung cấp các giải pháp quản trị kinh doanh và dịch vụ tiên tiến trên nền tảng công nghệ qua 3 lĩnh vực dịch vụ chính: Dịch vụ và Giải pháp kinh doanh, Dịch vụ Gia công và Quản lý kinh doanh, Dịch vụ Công cho Thị trường Bắc Mỹ.

2.1.2.3. Tập đoàn sữa Tam Lộc

Tập đoàn Tam Lộc thành lập năm 1956. Trong thập niên 90, Tam Lộc đã có những bước phát triển như vũ bão, không chỉ là nhà sản xuất sữa số một của Trung Quốc, mà còn là doanh nghiệp tiêu biểu của nền kinh tế Trung Quốc. Năm 1993, doanh thu của công ty này đứng đầu toàn ngành và liên tục giữ vị trí này trong một thời gian dài. Đây là một trong một số công ty không thành công trong việc thực hiện CSR.

2.2. Thực trạng thực hiện Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp tại Việt Nam

2.2.1. Tình hình thực hiện CSR tại Việt Nam.

2.2.1.1. Tổng quan tình hình thực hiện CSR tại Việt Nam.

CSR được giới thiệu vào nước ta thông qua hoạt động của các công ty đa quốc gia tại Việt Nam. Các công ty này thường xây dựng các bộ quy tắc và các chuẩn mực đạo đức và đạo đức kinh doanh có tính chất phổ quát để có thể áp dụng ở nhiều khu vực thị trường khác nhau. Do đó, CSR được công ty nước ngoài áp dụng bài bản và đạt hiệu quả cao như: Chương trình giáo dục vệ sinh cá nhân cho trẻ em tại các tỉnh miền núi của Việt Nam của công ty Unilever; Chương trình khôi phục thị lực cho trẻ em nghèo của Western Union, chương trình “Tôi yêu Việt Nam” của Honda Việt Nam…

2.2.2. CSR tại Việt Nam được thực hiện theo các lĩnh vực.

2.2.2.1. CSR đối với người lao động.

– Vấn đề lao động trẻ em.

– Vấn đề tiền lương và làm thêm giờ.

– Vấn đề phân biệt đối xử.

– Vấn đề an toàn lao động.

– Tai nạn lao động.

– Tình trạng đình công.

2.2.2.2. Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp đối với Cổ đông.

Thị trường chứng khoán Việt Nam mới được thành lập từ năm 2000, do quá trình phát triển ngắn nên CSR đối với các cổ đông còn là vấn đề rất mới mẻ ở nước ta, đã xuất hiện  những lỗ hổng của cơ chế giám sát, công bố thông tin chứng khoán hiện nay. Đó là tình trạng các báo cáo tài chính quý, sáu tháng, hàng năm của nhiều công ty niêm yết chất lượng kém, có nhiều báo cáo không đúng sự thật, hay không được công bố đầy đủ, thông tin về kết quả kinh doanh đưa ra có sự khác biệt giữa bản thân công ty và các công ty kiểm toán. Vì vậy, thời gian qua đã xuất hiện hiện tượng các doanh nghiệp đưa ra những thông tin chưa chính xác để trục lợi, gây lao đao cho nhiều nhà đầu tư.

2.2.2.3. Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp đối với người tiêu dùng.

Hiện nay, người tiêu dùng (NTD) mỗi khi lựa chọn sản phẩm nếu không tinh ý cũng dễ bị mua nhầm mà nguyên nhân là do việc các công ty cố tình đặt tên cho nhãn hiệu hàng hóa của mình tương tự một nhãn hiệu nổi tiếng đã có trước để trốn tránh luật pháp và gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng. Ví dụ cho tình trạng này quá nhiều, như Hongda và Honda, La Vierge và La Vie, Cỏ May và Camay… Người tiêu dùng đã tự tước đoạt đi quyền lợi chính đáng của mình và dung túng cho những sự việc phạm pháp tiếp tục diễn.

2.2.2.4. Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp đối với cộng đồng.

Trên thế giới, việc các doanh nhân giành một phần tài sản của mình đóng góp cho các hoạt động từ thiện đã trở nên quen thuộc. Những doanh nhân như: Andrew Carnegie, Rockefeller, Warren Buffet và đặc biệt là Bill Gates được nhắc đến không chỉ thành công trên thương trường mà còn vì những tấm lòng vàng. Bên cạnh việc xem làm từ thiện là nghĩa vụ đối với xã hội, các doanh nghiệp cũng sớm nhận ra giá trị của nó trong việc marketing. Vì thế, tham gia hoạt động từ thiện như một công cụ làm thương hiệu đang trở nên phổ biến trên thế giới, đặc biệt là phương Tây.

Ở Việt Nam, việc làm từ thiện của doanh nhân ngày nay cũng đã có nhiều chuyển biến tích cực. Các doanh nghiệp của chúng ta ngày càng quan tâm đền vấn đề này. Họ đã gắn lợi ích bản thân với việc chia sẻ cùng cộng đồng.

2.2.2.5. Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp đối với vấn đề môi trường.

Vấn đề thực hiện CSR đối với môi trường của các doanh nghiệp luôn là vấn đề “nóng” cần quan tâm. Hiện nay, trong số 154 khu công nghiệp (KCN) đang hoạt động trên toàn quốc chỉ có 39 KCN có hệ thống xử lý nước thải tập trung (chiếm 25%), chính vì hệ thống nước thải ở các KCN chưa được xây dựng đồng bộ, nên lượng nước thải công nghiệp mỗi ngày thải ra môi trường khoảng 500.000 – 700.000 m3 hầu hết chưa được xử lý đã làm ô nhiễm môi trường nước. Tình trạng ô nhiễm trên một số con sông như sông Tô Lịch, Nhuệ, sông Đáy, sông Cầu, sông Đồng Nai, sông Sài Gòn, sông Thị Vải… đã đến mức báo động. Bên cạnh đó, các KCN khi xây dựng thiếu các biện pháp bảo vệ môi trường nên khi tiến hành sản xuất, các chất thải rắn, lỏng không có chỗ chôn lấp, cũng như không có hệ thống xử lý, làm cho môi trường càng ô nhiễm.

2.2.3. Tình hình thực hiện CSR của một số doanh nghiệp tại Việt Nam

Ở Việt Nam việc thực hiện CSR đã bước đầu được quan tâm mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Trong đó, việc thực hiện CSR đi đầu là những công ty có vốn đầu tư nước ngoài và một số công ty nhận gia công sản phẩm của nước ngoài. Dưới đây là một số công ty điển hình ở Việt Nam thực hiện CSR:

2.2.3.1. Công ty Honda Việt Nam.

2.2.3.2. Công ty Unilever Việt Nam.

2.2.3.3. Công ty Sữa Việt Nam (Vinamilk).

Như vậy, các doanh nghiệp đưa CSR vào thực hiện đều phải tìm hiểu cụ thể, tuân thủ theo đúng quy định của nhà nước và thực hiện như thế nào để có hiệu quả trong hoạt động kinh doanh là một vấn đề lan giải.

CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆNTRÁCH NHIỆM XÃ HỘI DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM

3.1. Đánh giá tình hình thực hiện CSR tại Việt Nam.

Hiện nay, CSR tại Việt Nam đã được nhiều doanh nghiệp thực hiện và đạt được nhiều thành công. Nhưng, cũng có nhiều doanh nghiệp gặp thất bại khi thực hiện CSR.

3.1.1. Những mặt đạt được.

3.1.1.1. Số các doanh nghiệp tham gia vào CSR tăng.

3.1.1.2. Thực tiễn đã chứng tỏ rằng CSR có tác động tới các doanh nghiệp.

3.1.1.3. Các doanh nghiệp tích cực tham gia vào phát triển công tác cộng đồng hơn.

3.1.1.4. Các phương tiện truyền thông cho CSR.

3.1.2. Những vấn đề còn tồn tại.

3.1.2.1. Hạn chế trong vấn đề lao động: Tình hình thực hiện CSR ở các doanh nghiệp Việt Nam trong vấn đề lao động đang còn khá nhiều hạn chế. Vấn đề sử dụng lao động trẻ em, lao động vị thành niên vẫn còn xảy ra ở một số doanh nghiệp; Tiền lương, thu nhập trung bình của người lao động nhìn chung còn ở mức thấp, chưa thoả đáng, chưa đáp ứng được nhu cầu thiết yếu của cuộc sống, và chưa là động lực để người lao động hứng thú với công việc.

3.1.2.2. CSR đối với người tiêu dùng: Quyền lợi người tiêu dùng Việt Nam hiện nay đang bị nhiều doanh nghiệp vi phạm. Vì lợi nhuận các doanh nghiệp đã đưa ra thị trường những sản phẩm không đảm bảo chất lượng, và người tiêu dùng là những người chịu hậu quả. Thế nhưng, ý thức của cộng đồng và ý thức bảo vệ quyền lợi của người dân rất thấp.

3.1.2.3. CSR đối với môi trường: Tình trạng các doanh nghiệp hoạt động, sản xuất gây hậu quả xấu đến môi trường ngày càng phổ biến. Nhiều doanh nghiệp đã thải ra môi trường những nước thải sản xuất độc hại chưa qua xử lý, lượng khí thải của các nhà máy đang dần dần huỷ hoại tầng ozone… Môi trường sống hàng ngày đang phải chống chọi với tình trạng ô nhiễm nguồn nước, không khí, tiếng ồn, đất đai… ngày càng gia tăng.

3.1.3. Nguyên nhân của những tồn tại trong thời gian qua.

Thứ nhất, hiểu biết của giới kinh doanh Việt Nam hiện nay về các vấn đề ĐĐKD hay CSR còn mơ hồ và hạn chế. Đa số các doanh nghiệp chưa nhận thức được tầm quan trọng và ý nghĩa của CSR đối với khách hàng, xã hội và chính bản thân doanh nghiệp.

Thứ hai, Quản lý Nhà nước còn lỏng lẻo, các văn bản pháp luật không sát  với tình hình thực tế đã dẫn tới tình trạng các doanh nghiệp dễ dàng lách luật, chối bỏ những trách nhiệm của mình.

Thứ ba, Công đoàn Việt Nam là tổ chức có vai trò quan trọng trong việc hòa giải, ký kết thỏa ước lao động tập thể, là đại diện bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Thế nhưng hiện tại, các tổ chức công đoàn vẫn còn thiếu, chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế.

Thứ tư, tai nạn lao động, đình công đang có xu hướng gia tăng, đòi hỏi công tác thanh tra lao động phải được thực hiện thường xuyên. Theo Tổ chức Lao động Quốc tế ILO thì với các nước kém phát triển như Việt Nam thì trung bình 40.000 lao động phải có một thanh tra lao động. Nếu theo chuẩn này thì với trên 50 triệu lao động thì Việt Nam cần tới hơn 1000 thanh tra.

Thứ năm, Pháp lệnh Bảo vệ Người tiêu dùng Việt Nam có quy định người tiêu dùng có quyền được cung cấp thông tin về hàng hoá, dịch vụ, được quyền lựa chọn, được quyền khiếu nại, tố cáo… Nhưng kết quả tổng điều tra ý kiến người tiêu dùng (NTD) trên phạm vi cả nước năm 2008 của Hội Tiêu chuẩn – Bảo vệ NTD Việt Nam, có đến 41% NTD Việt Nam không biết mình có quyền lợi gì, số còn lại có biết nhưng cũng không sử dụng các quyền lợi mình đáng được hưởng.

3.2. Cơ hội và thách thức khi thực hiện CSR tại Việt Nam.

3.2.1.Cơ hội.

Một là, ngày càng có nhiều công ty lớn thuộc các tập đoàn đa quốc gia, xuyên quốc gia tham gia vào thị trường Việt Nam: NIKE, UNILEVER, SAMSUNG, TOYOTA, P&G… Các tập đoàn này vốn có nhiều kinh nghiệm về thực hiện CSR và nhiều ràng buộc về các quy tắc ứng xử trong quản lý cũng như trong hoạt động sản xuất kinh doanh và điều này sẽ góp phần thay đổi tư duy, nhận thức của doanh nghiệp Việt Nam về vấn đề này.

Hai là, việc giải quyết tốt các vấn đề xã hội là nhân tố góp phần mang lại sự ổn định để phát triển kinh tế quốc gia vì thế thực hiện CSR càng có ý nghĩa hơn. Nhận thức về tầm quan trọng này Nhà nước Việt Nam đã thông qua Quyết định ban hành Định hướng Chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam.

Ba là, để thúc đẩy việc triển khai CSR của doanh nghiệp tại Việt Nam, bên cạnh hoạt động của các cơ quan quản lý Nhà nước, tổ chức công đoàn và các hiệp hội,… các tổ chức phi chính phủ cũng đã vào cuộc nhằm đẩy mạnh quyền lợi của người lao động tại Việt Nam.

3.2.2. Những thách thức mà các doanh nghiệp gặp phải khi tiến hành CSR tại Việt Nam.

  1. Đầu tư cho CSR vẫn còn là một gánh nặng cho doanh nghiệp

Trong số 250.000 doanh nghiệp hiện đang hoạt động tại Việt Nam thì có tới 96% là các doanh nghiệp vừa và nhỏ với nguồn lực tài chính hạn hẹp nên họ khó có thể ngay lập tức lắp đặt các trang thiết bị an toàn lao động, đảm bảo vệ sinh lao động, dây truyền xử lý chất thải công nghiệp… Đa phần các doanh nghiệp chỉ có trình độ ở mức trung bình và kém trên thế giới, phương tiện sản xuất lạc hậu so với thế giới từ 20 – 30 năm, lại được chắp vá từ nhiều nguồn nên cũng không đủ điều kiện đảm bảo an toàn, vệ sinh, tính năng sử dụng. Bởi vậy, các doanh nghiệp nếu không có yêu cầu từ bên ngoài thì thường chối bỏ việc thực hiện CSR, họ muốn tiết kiệm các khoản chi phí này.

  1. Sự khác biệt giữa quy định của thế giới và Luật Lao động Việt Nam.

Một số doanh nghiệp Việt Nam hiện nay đang thực hiện CSR dựa trên một số bộ Quy tắc ứng xử (CoCs) đang đươc sử dụng rộng rãi trên thế giới như SA8000, WRAP, ISO14000… Trong đó, nhiều bộ CoCs được xây dựng trên các công ước ILO. Vì có sự khác biệt trong một số quy định của bộ CoCs này với Bộ luật Lao động Việt Nam nên đã gây khó khăn cho các doanh nghiệp trong quá trình thực hiện. Như việc một số bộ CoCs quy định cho phép tối đa mức giờ làm thêm của mỗi công nhân cao hơn mức 300h/người/năm theo như Bộ luật Lao động Việt Nam.

  1. Mặc dù đã có nhiều hoạt động quảng bá, tuy nhiên hạn chế về hiểu biết của doanh nghiệp cũng là thách thức trong thời gian tới.

CSR của doanh nghiệp còn đòi hỏi các doanh nghiệp phải nghĩ đến sự ảnh hưởng của họ đối với những người liên quan mà trước hết là các cổ đông, người tiêu dùng, cộng đồng, sau nữa là môi trường sống và môi trường thiên nhiên trước khi đề ra một quyết định.

  1. Người lao động chưa nhận biết được quyền lợi của mình.

Người lao động, đặc biệt là những lao động có trình độ thấp (chiếm đa số trong tổng số lao động cả nước hiện nay), do nhận thức còn nhiều hạn chế nên họ chưa nhận biết quyền lợi thực sự của mình. Do điều kiện kinh tế khó khăn, vì “miếng cơm manh áo” mà họ đã chấp nhận làm việc trong điều kiện không đảm bảo, thoả hiệp với các doanh nghiệp bỏ qua những vi phạm của doanh nghiệp về an toàn lao động, an toàn vệ sinh, quyền lợi người lao động.

3.3. Một số giải pháp nhằm phát triển và nâng cao hiệu quả thực hiện CSR tại Việt Nam.

3.3.1. Các biện pháp từ phía Nhà nước.

3.3.1.1. Bổ sung và hoàn thiện khung pháp luật Việt Nam nhằm tạo sở sở pháp lý vững chắc cho ĐĐKD và CSR.

Hệ thống pháp luật chính là khung cơ sở, là nền tảng đầu tiên để các doanh nghiệp thực hiện ĐĐKD nói chung cũng như CSR nói riêng. Tuy nhiên khung pháp luật hiện thời của Việt Nam còn nhiều thiếu xót, bất cập chưa đáp ứng được những đổi mới của đất nước khiến cho nhiều doanh nghiệp đã lợi dụng kẽ hở của pháp luật để trốn tránh không thực hiện nghĩa vụ đạo đức, CSR.

3.3.1.2. Tăng cường tuyên truyền nâng cao nhận thức về ĐĐKD và CSR ở Việt Nam.

Nhận thức đúng về đạo đức kinh doanh và trách nhiệm xã hội, trách nhiệm cộng đồng là điều cần thiết đối với mỗi doanh nghiệp. Nhận thức đúng để hành động đúng bên cạnh cơ chế quản lý chặt chẽ và hiệu quả hơn của các cơ quan quản lý Nhà nước về bảo vệ người lao động, người tiêu dùng, môi trường… chắc chắn sẽ mang lại hiệu quả thiết thực và ý nghĩa đối với con người.

– Xây dựng, bổ sung Bộ Luật Lao động Việt Nam.

– Tổ chức các cuộc đối thoại trực tiếp về CSR.

– Phối hợp đồng bộ hoạt động của các cơ quan, ban ngành, tổ chức.

3.3.1.3. Có chính sách khuyến khích, hỗ trợ thực thi CSR trong doanh nghiệp.

Mục tiêu của các doanh nghiệp trong quá trình sản xuất, kinh doanh là tối đa hoá lợi nhuận, doanh thu, trong khi đó, việc tuân thủ ĐĐKD nói chung và CSR nói riêng cần có thời gian dài mới có thể phát huy đem lại lợi ích cho doanh nghiệp. Do đó, Nhà nước nên ban hành các chính sách khuyến khích, quan tâm, hỗ trợ các doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm xã hội như việc giúp đỡ doanh nghiệp sản xuất phù hợp với tiêu chuẩn về bảo vệ môi trường, sản xuất theo công nghệ sạch…

3.3.1.4. Hoàn thiện bộ máy, cơ chế hoạt động của công tác thanh tra kiểm tra.

Thanh tra lao động có vai trò là người kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy định pháp luật của các doanh nghiệp. Tuy nhiên, do lực lượng thanh tra viên  ở nước ta còn mỏng chưa đáp ứng được số lượng các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất ngày càng gia tăng, do vậy việc tăng cường năng lực hoạt động của hệ thống thanh tra lao động là điều cần thiết.

3.3.1.5. Đưa CSR vào chương trình giáo dục của các trường đại học.

Hiện nay, trong các trường đại học dạy về kinh doanh, sinh viên chủ yếu được học về các kỹ năng cứng là các nghiệp vụ, kỹ thuật kinh doanh  là chính chứ ít khi được dạy về các kỹ năng mền: cách ứng xử trong hoạt động kinh doanh, và càng hiếm được dạy về cách ứng xử có đạo đức, trách nhiệm của doanh nghiệp với xã hội, với cộng đồng.

3.3.2. Giải pháp từ phía doanh nghiệp.

Việc thực hiện CSR không chỉ là vấn đề trong ngắn hạn mà đó là quá trình lâu dài với sự nỗ lực của các doanh nghiệp. Khi việc đáp ứng những tiêu chuẩn trong kinh doanh là phương tiện cho các nhà sản xuất, cung ứng dịch vụ tiếp cận thị trường quốc tế thì các doanh nghiệp Việt Nam cần thoát ra khỏi thể bị động, nắm lấy vị trí chủ động hơn trong việc thực thi CSR.

3.3.2.1. Nâng cao nhận thức về CSR.

Nâng cao nhận thức về CSR trong các doanh nghiệp trước hết phải bắt đầu từ người đứng đầu doanh nghiệp bởi tầm nhìn và quyết định của họ có ảnh hưởng rất lớn, thậm chí tuyệt đối  tới chiến lược sản xuất kinh doanh của công ty (đặc biệt ở những công ty vừa và nhỏ).

3.3.2.2. Có chiến lược dài hạn trong xây dựng và hoàn thiện các tiêu chuẩn CSR với những bước đi thích hợp.

Việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp theo ý nghĩa đầy đủ và đích thực không phải là một vấn đề đơn giản và nằm trong khả năng giải quyết trong ngắn hạn của phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam bởi sự hạn chế của các yếu tố nguồn lực, trong đó có nguồn lực tài chính.

3.3.2.3. Xây dựng công đoàn cơ sở vững mạnh.

Công đoàn đã và đang đóng góp một vai trò tích cực là đại diện của giai cấp công nhân lao động. Đặc biệt trong các doanh nghiệp nơi người lao động là người làm chủ doanh nghiệp.

Như vậy, CSR tại Việt Nam đang được nhiều doanh nghiệp quan tâm. Các chính sách của Nhà nước và từ phía các doanh nghiệp đã tạo bước đà cho CSR phát triển mạnh mẽ ở Việt Nam. Từ đó, các doanh nghiệp Việt Nam hiểu và thực hiện CSR một cách tự giác, và ngày càng làm cho hoạt động kinh doanh của mình phát triển lên tầm cao mới.

KẾT LUẬN

Trong giai đoạn toàn cầu hóa hiện nay, vai trò của CSR ngày càng quan trọng trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp. CSR là công cụ hữu hiệu để các doanh nghiệp nâng cao chất lượng, giá trị, tăng doanh thu của doanh nghiệp. Tuy nhiên, một số doanh nghiệp chưa hiểu biết, nắm rõ được quy trình đưa CSR vào doanh nghiệp nên cũng gặp những thất bại. Sự thành công của P&G, CSC, Intel, … là bằng chứng cho việc thực hiện CSR có hiệu quả. Hay sự sụp đổ của tập đoàn Tam Lộc là hệ quả của những việc làm vô trách nhiệm, thiếu đi đạo đức của nhà doanh nghiệp.

Ở Việt Nam, vấn đề Đạo đức kinh doanh hay trách nhiệm xã hội là một vấn đề mới. Các vấn đề như đạo đức kinh doanh, văn hóa kinh doanh, văn hóa doanh nghiệp… mới chỉ nổi lên kể từ khi Việt Nam thực hiện chính sách Đổi mới và tham gia vào quá trình quốc tế hóa và toàn cầu hóa vào năm 1991. Việc thực hiện CSR của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay còn nhiều hạn chế, yếu kém do các doanh nghiệp chưa nhận thức đúng đắn về CSR. Do đó, các doanh nghiệp Việt Nam cần tuân thủ các quy tắc chung mang tính toàn cầu để tồn tại và phát triển. Vì vâỵ, CSR trở thành một yêu cầu không thể thiếu của các doanh nghiệp.

Một số doanh nghiệp ở Việt Nam đã thực hiện thành công CSR như: Unilever, Honda Việt Nam, Sữa Việt Nam (Vinamilk),… là những gương tiêu biểu, và là mô hình cho các doanh đã và đang từng bước thực hiện CSR. Đi đôi với các doanh nghiệp thì nhà nước cũng phải có những chính sách và biện pháp tích cực nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mạnh dạn trong việc thực hiện CSR. Và trong thời kỳ hội nhập, một tiêu chí quan trọng đánh giá sự phát triển, năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp chính là trách nhiệm xã hội.

Đạo đức kinh doanh nói chung, CSR nói riêng là những phạm trù phức tạp, và để hiểu và thực hiện được CSR cần một khoảng thời gian không ngắn và phải có những bước đi phù hợp. Để các doanh nghiệp nâng cao ý thức về CSR, đồng thời áp dụng thực hiện trong doanh nghiệp mình đòi hỏi phải có giải pháp đồng bộ trong đó có sự phối hợp của các doanh nghiệp Nhà nước, các cơ quan ban ngành, các tổ chức hiệp hội và cả những người dân. Có như vậy, chúng ta mới mong tình hình thực hiện CSR được cải thiện và sẽ phát huy tác dụng góp phần tạo dựng chỗ đứng cho các doanh nghiệp Việt Nam ngay tại thị trường trong nước và trên thị trường thế giới.